Từ những người thợ thêu đầu tiên của làng nghề Quất Động, nhiều người Hà Nội hoặc người từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống cũng đã học nghề thêu. Với những gia đình giầu có, họ học nghề thêu để làm ra những vật dụng của bản thân và để tặng ai đó, còn những gia đình khó khăn thì học nghề thêu như là một nghề kiếm sống, sinh nhai. Vì vậy, số người biết làm nghề thêu cứ âm thầm lan truyền và tăng lên theo cấp số nhân ở đất Thăng Long.
Cho đến bây giờ, tất cả các nhà nghiên văn hóa dân gian Hà Nội và gần như mọi làng nghề có nghề thêu truyền thống ở nước ta đều thống nhất tôn vinh tiến sỹ Lê Công Hành, một vị quan triều Lê là ông tổ của nghề thêu Việt Nam. Theo gia phả còn lưu giữ trong nhà thờ tổ nghề, ngài có tên là Lê Công Hành sống vào khoảng thế kỷ XVII, trong một lần đi sứ ông đã học được nghề thêu và truyền dạy cho dân làng Quất Động. Từ đó, ông được tôn là tổ nghề thêu và vào ngày 12 tháng Sáu âm lịch hàng năm, ngày mất của ông, dân làng thường tổ chức làm lễ giỗ Tổ nghề.
Vào thế kỷ 17, đô thị Thăng Long kẻ chợ trở nên sầm uất vô cùng, người dân từ các làng nghề truyền thống khắp nơi kéo về làm ăn buôn bán. Lịch sử cũng đã từng ghi nhận, từ đời nhà Lý chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, nơi này ngay lập tức đã trở thành một trung tâm lôi kéo được người dân thập phương về làm ăn buôn bán. Trong sách Kiến văn tiểu lục, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết: "Thời nhà Lý mới đóng đô ở Thăng Long, người bốn phương đã kéo đến hội tụ, buôn bán...". Đến thời nhà Lê, nhất là sau cải cách của vua Lê Thánh Tông (1460- 1497), nền kinh tế của đất nước có bước phát triển lớn và bền vững. Vì thế, Thăng Long, với 61 phường (đã có từ thời nhà Trần) lại càng phát triển. Sau này, số phố phường Hà nội giảm xuống còn 36. Mỗi con phố khi ấy lại gắn với một nghề truyền thống, rồi trở thành phố nghề. Những con phố được gọi theo tên của những sản phẩm hàng hóa mà người dân làng nghề làm ra hoặc đem ra tiêu thụ. Chẳng hạn phố hàng Đào chuyên bán tơ lụa, phố hàng Bạc chuyên bán đồ trang sức, phố hàng Trống thì chuyên bán các loại trống, phố Hàng Thêu chuyên bán các sản phẩm thêu thùa… Theo nhà nghiên cứu Giang Quân, chính quá trình hình thành các làng nghề, rồi phố nghề mà Thăng Long, vốn chỉ là một thành trì quân sự đã dần vươn mình trở thành thị - tiền đề cho một đô thị phát triển sầm uất về kinh tế sau này.
Trong dòng người thập phương đổ về kinh kỳ Thăng Long làm ăn buôn bán, tạo ra những làng nghề, rồi phố nghề, có rất nhiều thợ thêu làng nghề Quất Động. Ban đầu, những người làng Quất Động tập trung ở thôn Tự Tháp (cuối phố Hàng Trống bây giờ) làm và bán những sản phẩm thêu. Sau nhiều năm chuyên bán các sản phẩm thêu, nhiều người đã quen gọi đoạn phố người Quất Động đến sinh sống và làm ăn ấy là phố Hàng Thêu. Phố Hàng Thêu khi ấy dài chỉ khoảng 40 mét, nhưng mức sầm uất thì chẳng kém cạnh những con phố phát triển bậc nhất khác của Thăng Long. Hàng hóa thêu bày bán khi ấy không chỉ phục vụ cho các bậc quan lại, chức sắc, mà nó có rất nhiều mẫu mã phục vụ các nghi lễ truyền thống, đồ thờ cúng hoặc các y môn cho các đình, chùa. Các mặt hàng thêu khi ấy cũng không chỉ xuất hiện tại phố Hàng Thêu, mà nhiều con phố khác cạnh đó như phố Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Chỉ… cũng bày bán sản phẩm do người thợ thêu làm ra.
Từ những người thợ thêu đầu tiên của làng nghề Quất Động, nhiều người Hà Nội hoặc người từ các địa phương khác đến Hà Nội sinh sống cũng đã học nghề thêu. Với những gia đình giầu có, họ học nghề thêu để làm ra những vật dụng của bản thân và để tặng ai đó, còn những gia đình khó khăn thì học nghề thêu như là một nghề kiếm sống, sinh nhai. Vì vậy, số người biết làm nghề thêu cứ âm thầm lan truyền và tăng lên theo cấp số nhân ở đất Thăng Long.
Vào năm 1802, Nguyễn Ánh, với sự trợ giúp của người Pháp đã tiêu diệt nhà Tây Sơn lên ngôi Hoàng đế rồi rời đô vào kinh thành Huế. Kinh thành Thăng Long sau 800 năm phát triển lại trở về vai trò là trấn thành, rồi tỉnh thành. Sự thay đổi về mặt hành chính này kéo theo cả sự thay đổi về mặt kinh tế, xã hội khiến không chỉ Thăng Long mà toàn miền Bắc khi ấy phải chịu một sự thay đổi lớn. Rất nhiều làng nghề, rồi phố nghề ở đất Thăng Long lâm vào cảnh đình trệ, không phát triển. Nghề thêu khi ấy với những sản phẩm bán ra chủ yếu cho tầng lớp vua chúa, quan lại và những gia đình quyền quý không còn khách hàng nữa nên cũng lâm vào cảnh đình đốn. Nhiều thợ thêu giỏi của làng nghề Quất Động và cả một số thợ thêu đang làm ăn ở Thăng Long vì thế cũng đã di cư vào Huế hoặc đi khắp nơi kiếm kế sinh nhai. Thế nhưng, cũng chính trong hoàn cảnh khó khăn nhất này thì nghề thêu đất Thăng Long một lần nữa lại tỏa sáng.
Theo nhà nghiên cứu phục trang Trịnh Bách thì nghề thêu thời kỳ phong kiến chủ yếu phục vụ vua chúa và giới quý tộc nên nghiên cứu kỹ thuật và nghệ thuật thêu thời kỳ phong kiến phải dựa vào những trang phục, nhất là những mẫu long bào vốn là trang phục của những bậc vua chúa. Nếu căn cứ vào các mẫu long bào thì thấy kỹ thuật thêu phát triển đến độ tinh xảo nhất ở nước ta lại chính là vào thời nhà Nguyễn, chứ không phải vào đời nhà Lê hay nhà Tây Sơn trước đó. Vào thời kỳ nhà Nguyễn, nhất là vào thời Thiệu Trị, nghề thêu nước ta còn tinh xảo về kỹ thuật lẫn hoa văn hơn cả nghề thêu của Trung Quốc. Trong lịch sử phát triển nghề thêu Việt Namthì đây là thời kỳ đầu tiên, duy nhất, cả kỹ thuật và nghệ thuật nghề thêu của ta vượt qua Trung Quốc. Và, một điều đặc biệt khác là long bào của triều vua và nhiều sản phẩm liên quan đến thêu của triều đình Nhà Nguyễn tại Kinh thành Huế khi ấy đều được những người thợ làng nghề Quất Động sinh sống ở Thăng Long và Hà Đông gia công rồi chuyển vào.
Sau một thời gian đứng vững với nghề thêu ở đất kinh kỳ, những người thợ thêu làng nghề Quất Động đã lập đền thờ vị tổ nghề thêu làng mình để ghi nhớ công ơn với người đã đem nghề thêu về cho dân làng. Đến nay, đền Tú Đình Thị ở số 2A Yên Thái là nơi thờ ông tổ nghề thêu thôn Quất Động Lê Công Hành, đồng thời, đó cũng là ông tổ nghề thêu đất Thăng Long kẻ chợ. Ngày 12 tháng 6 âm lịch (tức ngày mất của tiến sỹ Lê Công Hành) hàng năm được lấy làm ngày giỗ tổ nghề thêu đất Thăng Long và cũng là ngày giỗ tổ của nghề thêu ở Việt Nam.
Trong quá trình hình thành những làng nghề, phố nghề rồi thâu nạp những lao động cho làng nghề ở Thăng Long, thì nghề thêu là nghề có sức cuốn hút mạnh mẽ tới mọi tần lớp cư dân Hà Nội, nhất là với những phụ nữ. Chính sự hấp dẫn đặc biệt này đã khiến cho nghề thêu có một sức sống bền bỉ, dù sau này Thăng Long đã có không ít những biến động.
Ngay khi xuất hiện nghề thêu, rồi những sản phẩm thêu thùa bày bán ở dất Thăng Long, nghề thêu đã lôi cuốn được rất nhiều người học nghề. Tại Thăng Long khi ấy, ngoài những người thợ thêu làng nghề Quất Động hành nghề thêu, rất nhiều người Hà Nội (chủ yếu là những gia đình quyền quý) cũng đã học được thêu thùa, rồi làm ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu gia đình và bản thân.
Hiện nay, khi có chính sách khôi phục làng nghề thì nghề thêu được chú trọng. Mặt khác, nhu cầu về đồ thêu của thị trường lên cao, đặc biệt là nghệ thuật thêu tranh được khách hàng trong và ngoài nước rất ưa thích, thì làng thêu Quất Động vẫn có cơ hội bởi còn giữ được nét tài hoa, nghệ thuật thêu tinh xảo của cha ông.
Những giá trị đang được lưu giữ tại làng nghề Quất Động, quê hương của nghề thêu Thăng Long và cả nước là niềm tin về sự lan tỏa và sức sống bền bỉ của văn hóa Việt, của những giá trị Việt mà nghề thêu đã mang lại, lưu truyền và phát triển ở Thăng Long, không chỉ mấy trăm năm, mà còn cho cả mai sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét